Tranh cãi đề xuất thu hồi tài nguyên nước và khoáng sản 5.000 tỷ đồng

Chiều 1/11, Quốc hội tranh luận về đề xuất hoãn thu tiền cấp quyền khoáng sản, tài nguyên nước. Theo báo cáo của Chính phủ, cơ quan này đã đề nghị Quốc hội thông qua nghị quyết đưa ra thời hạn thu tiền cấp quyền khai thác và cấp quyền sử dụng nước. Ước tính số tiền bị yêu cầu hủy là gần 5 nghìn tỷ đồng. Đề xuất dựa trên Nghị định số 203 hướng dẫn phương thức thu, so với quy định của pháp luật, thuế tài nguyên đối với quyền khai thác đã ban hành thấp hơn. Hai năm sáu tháng, Nghị định số 82 về Tài nguyên nước quy định bốn năm tám tháng. Việc chậm trễ này khiến không thể thu được số tiền nói trên của các doanh nghiệp, cá nhân.

Ông Tawanha – Ủy viên thường trực Ủy ban Điện thoại về Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Đây là “lỗi của người tiền nhiệm”, và lý do từ chức của chính phủ được đưa ra trong tuyên bố là không thuyết phục. Để đảm bảo công bằng, ông đề nghị chính phủ nhìn rõ dấu hiệu tham nhũng và các chính sách trục lợi ở đây?

“Tôi cho rằng vấn đề này không chỉ là vấn đề thực thi pháp luật mà còn làm giảm uy tín, giảm hiệu lực của pháp luật. Nếu chỉ xử lý, rút ​​kinh nghiệm thì không thỏa đáng”, ông Hà.

Đại diện Tavanha-Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng. Ảnh: Võ Hải

Ông Hoàng Quang Hàm-Ủy viên Ủy ban Tài chính Ngân sách cũng cho rằng những khó khăn mà Chính phủ nêu ra là thuyết phục. Bản chất của việc yêu cầu chậm trễ là “không tính, không thu tiền ủy quyền này”. Ông Hàm phân tích, khi nghị định được ban hành, những lệ phí môn bài này không phải là chính sách mới, nhưng chịu sự giám sát của pháp luật trong thời gian dài và không có hiệu lực truy thu.

Ngoài ra, thưa Chủ tịch, nghị định được ban hành là thu hồi tiền cấp quyền khai thác để tránh thất thu từ khoáng sản, tài nguyên nên không thể miễn các khoản thu này vì Chính phủ ban hành nghị định không quá muộn. -Ngoài ra, theo giả định của ông Hàm, việc giả định khó có khả năng thu hồi do tồn tại công ty ngừng hoạt động hoặc phá sản thì không đáng lo ngại, vì trong trường hợp này, khoản nợ sẽ bị Luật đã bị đóng băng và bị hủy bỏ.

“Trên thực tế, nhiều công ty kinh doanh với mục đích thu thuế, việc tính toán lại và bù trừ số tiền đã nộp không khó, vì tính toán lại chắc chắn doanh thu sẽ tăng lên”, ông Hoàng Quang Hàm nói và đề nghị chính phủ xem xét lại. Tính toán tất cả số phải nộp ngân sách để xác định số không thu được, vì phần còn lại phải là thu, ông Hàm cho biết: “Đây là thu từ ngân sách theo luật định nên đưa vào ngân sách là chuyện bình thường. Ông Nghiêm Vũ Khải, đại diện cơ quan tài phán, cho rằng đề xuất rút tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là “vấn đề mới chưa có tiền lệ”. Nghị quyết đã được thông qua. Cuộc họp nên hoãn đến giữa năm 2020. Ông Khải cho rằng nguyên nhân là do giá trị ước tính khoảng 5 nghìn tỷ đồng là con số ước tính, chưa đủ độ tin cậy nhưng có thể lớn hơn, mặt khác chỉ là tài nguyên khoáng sản do ban hành văn bản quy phạm pháp luật hay Thu nhập bị mất do chậm trễ các nguồn thu nhập khác? – Ông Kay đề nghị: “Cần phải đánh giá sự mất mát này. Để tránh tạo tiền lệ xấu sau này, nếu không nhận được tiền thì xin Quốc hội miễn giảm. “Đồng thời, ở góc độ quản lý các doanh nghiệp nhà nước lớn, ông Lê Minh Chuẩn, Chủ tịch Tập đoàn Than Việt Nam (TKV), kiến ​​nghị Quốc hội thông qua nghị quyết yêu cầu lùi thời hạn thu các khoản trên, vì doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước của doanh nghiệp rất khó khăn.

Ông Chuẩn cho biết 2,5 năm sau khi “Luật Khoáng sản” có hiệu lực, Nghị định số 203 hướng dẫn thi hành sẽ có hiệu lực vào ngày 20/1/2014. Công ty đã thực hiện đăng ký kinh tế, phân chia lợi nhuận và công khai tài chính. “Bây giờ nghĩ lại, chúng ta phải lùi sau năm 2014, không có cơ sở pháp lý để thu thu nhập của công ty. Và nếu quay ngược lại quá khứ, việc kinh doanh sẽ rất khó khăn, đặc biệt là tái đầu tư và tái đầu tư. Đây là một bài toán phi thực tế “, Chủ tịch TKV nói. Chưa kể đến việc nhiều doanh nghiệp nhà nước trong đó có TKV đã được cổ phần hóa từ năm 2011 đến năm 2013. Do tồn tại các đơn vị thập phân nên đơn vị vẫn Trong. – Chủ tịch TKV khuyến nghị tránh hiểu nhầm yêu cầu chậm thu phí.Đó là việc tạm dừng thu thập, sau này có thể truy xuất nguồn gốc. Nghị quyết của Quốc hội đã thay đổi từ “chậm thu thuế tài nguyên” thành “chậm bắt đầu chi trả trợ cấp”. Do đó, kể từ ngày Luật Khoáng sản và Luật Tài nguyên có hiệu lực thì việc tính thuế tài nguyên cấp quyền khai thác khoáng sản và tài nguyên nước bắt đầu được thực hiện. Trong nước, nhưng sẽ được xác định khi nghị định có hiệu lực.

Chen Honghe, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã tuyên bố trong một giải trình trước Quốc hội: “Không có thiệt hại và không có lợi ích tập thể khi xin hoãn thu hồi phí mỏ và quyền nước.”

Bộ trưởng Hà cho rằng một trong những nguyên nhân khiến Chính phủ chậm ban hành hai nghị định trên là do trong giai đoạn 2011-2016, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã “quá tải”, bao gồm gần 500 văn bản quy phạm pháp luật, nghị định và hơn 100 bộ luật. . Mặt khác, chính sách thu thuế cấp quyền khai thác khoáng sản là một chính sách mới, được đưa ra trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, ngành khai thác khoáng sản bị ảnh hưởng, nhiều công ty phá sản. Nó cũng tuyên bố rằng cần phải có một chính sách “khoan dân”.

Khi Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội triệu tập cuộc họp cấp Bộ để thẩm định nghị định điều chỉnh Luật Tài nguyên, thì đã có vấn đề “chồng thuế”. . “Đánh thuế”, vì bản chất thu, cấp quyền sử dụng tài nguyên cũng là một loại đánh thuế, một lý do khác được ông đưa ra là cho đến nay, Việt Nam chưa đánh giá được trữ lượng khoáng sản để làm căn cứ . Thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. “Có gần 4.000 giấy phép khai thác do địa phương cấp mà không đánh giá trước trữ lượng. Luật khoáng sản được thông qua đã thay đổi toàn bộ tư duy quản lý. Đánh giá trữ lượng của các mỏ nhỏ cũng bị mất. Từ nhiều năm nay, TKV có những mỏ chưa đánh giá được trữ lượng. “Bộ trưởng Hart trích dẫn.

Ông cũng nhấn mạnh rằng thời hạn thu tiền bản quyền cấp quyền khai thác nên được hoãn lại một cách hợp lý. Luật Khai thác không đưa ra các điều khoản hồi tố mà chỉ quy định việc đánh giá trữ lượng sau khi luật được ban hành. Sau (thường là 3-5 năm).

“Bây giờ, thời gian thu thập dựa trên tổng trữ lượng và được chia thành lần thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Do đó, điều này không ảnh hưởng đến việc chúng tôi quay trở lại một năm hay hai năm và tiếp tục thu tổng số tiền, tức là đã thu cách đây 2 năm và việc thu thập hiện tại luôn dựa trên đánh giá toàn bộ trữ lượng khai thác “, ông giải thích.-Ruan Huai’ai


    Trả lời